Những điều nghĩ lại sau 10 năm bão Chanchu

1. Tình hình chung

Theo Tổng cục Thống kê, ước tính giá trị sản xuất thủy sản năm 2014 (tính theo giá so sánh 2010) ước đạt gần 188 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, giá trị nuôi trồng thủy sản ước đạt hơn 115 nghìn tỷ đồng và giá trị khai thác thủy sản ước đạt hơn 73 nghìn tỷ đồng.

Bảng 1: Giá trị sản xuất thủy sản năm 2014 theo giá so sánh 2010

Đơn vị: tỷ đồng

Ch tiêu

 Năm 2013

 Năm 2014

 So sánh 2014/2013

 Giá trị sản xuất thủy sản

      176.548,0

      188.083,9

106,5

 - Nuôi trồng thủy sản

      106.570,1

      115.060,6

108,0

 - Khai thác thủy sản

        69.977,9

        73.023,3

104,4

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Năm 2014 được đánh giá là năm thuận lợi cho hoạt động sản xuất thủy sản. Cả năm chỉ có 5 cơn bão ảnh hưởng đến vùng biển nước ta với ảnh hưởng không lớn. Ngoài ra, việc Chính phủ. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành những văn bản định hướng đẩy mạnh phát triển thủy sản như Đề án tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản, Nghị định 36/2014/NĐ-CP về nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra… đã tạo động lực để ngư dân, người nuôi đẩy mạnh sản xuất. Sản lượng đạt khá trong những chuyến biển cũng là yếu tố tích cực động viên ngư dân yên tâm bám biển.

Bảng 2.  Ước kết quả sản xuất  thủy sản năm 2014

TT

Chỉ tiêu

Kế hoạch năm

Đơn vị tính

 Ước thực hiện 2014

 So với thực hiện kế hoạch

 So sánh 2014/2013

I

Tổng sản lượng thủy sản

       6,200

1.000 tấn

       6.304

101.7

104.4

1

Sản lượng khai thác

       2,600

1.000 tấn

       2.684

103.0

103.9

 

- SL khai thác hải sản

      2,400

1.000 tấn

       2.495

104.0

104.2

 

- SL khai thác nội địa

         200

1.000 tấn

          189

95.0

99.5

2

Sản lượng nuôi trồng

       3,600

1.000 tấn

       3.620

100.6

104.8

 

Sản lượng tôm nước lợ

 

 

 

   
 

Trong đó:      Tôm sú

         250

1.000 tấn

260

104.4

97.0

 

                     Tôm thẻ

         270

1.000 tấn

400

133.3

142.9

 

Sản lượng cá tra

       1,100

1.000 tấn

1.100

100.0

91.7

II

Diện tích nuôi

      1,100

1.000 ha

 

   
 

Tôm nước lợ

 

1.000 ha

 

   
 

Trong đó:      Tôm sú

         600

1.000 ha

590

98

100.0

 

                     Tôm thẻ

           70

1.000 ha

95

133

145.3

 

Trong đó:      Cá tra

          5.2

1.000 ha

5.5

106

100

Nguồn: Trung tâm Thông tin Thủy sản tổng hợp từ Vụ NTTS và Cục KT&BVNLTS

Năm 2014 cũng là năm thuận lợi cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản. Tại các địa phương, sản lượng và diện tích nuôi trồng thủy sản đều tăng và mở rộng so với năm 2013.  Do những thuận lợi từ thị trường xuất khẩu, dưới sự chỉ đạo hiệu quả của các ngành, các cấp, ngành nuôi tôm đã có bước phát triển mạnh mẽ, diện tích nuôi tăng mạnh, đặc biệt với tôm thẻ chân trắng. Giá trị xuất khẩu tôm tăng khá, đóng góp quan trọng vào mức tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản nói chung.

Tổng sản lượng thủy sản năm 2014 ước đạt 6,3 triệu tấn, tăng 4,4% so với năm 2013 và tăng 1,7% so với kế hoạch đề ra, trong đó, sản lượng khai thác thủy sản đạt 2,68 triệu tấn, tăng 3,9% và nuôi trồng thủy sản đạt 3,62 triệu tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ. 

Khai thác thủy sản

Sản lượng khai thác thuỷ sản cả năm 2014 ước tính đạt  2.684 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ, trong đó khai thác hải sản đạt 2.495 nghìn tấn, tăng 4%, khai thác nội địa đạt 189 nghìn tấn, tăng 4,4%

Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ninh, từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác thuỷ sản toàn tỉnh đạt gần 53.000 tấn, đạt 97,9% kế hoạch, bằng 101% so với cùng kỳ trong đó, khai thác biển đạt trên 51.000 tấn, khai thác nội địa đạt gần 1.600 tấn. Có được kết quả trên là do từ đầu năm đến nay, thời tiết thuận lợi, việc khai thác thuỷ sản của bà con ngư dân trên địa bàn tỉnh được phát huy hiệu quả. Ngư dân tích cực bám biển, các ngư trường truyền thống như: Vịnh Bái Tử Long, Vĩnh Thực, Má Cháu, đảo Trần... được bà con duy trì tốt; ngư trường khai thác đều trên cả 3 tuyến, ven bờ, tuyến lộng và tuyến khơi

Thời tiết nhìn chung  thuận lợi cho việc đánh bắt thủy sản nên ngư dân các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình, Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận… đã tích cực bám biển, đặc biệt là tham gia khai thác ở các vùng biển xa nên sản lượng khai thác năm 2014 tăng so với cùng kỳ. Tại Quảng Bình, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của bão số 10, hoàn lưu cơnbão số 11 năm 2013, nhưng với sự hỗ trợ của Nhà nước, trong năm 2014 bà con ngư dân đã đầu tư nâng cấp, đóng mới tàu công suất lớn để đánh bắt vùng biển xa, quyết tâm vươn khơi, bám biển, đồng thời các doanh nghiệp, hộ nuôi trồng thủy sản đã mạnh dạn đầu tư ao hồ, trang thiết bị, cải tiến quy trình kỹ thuật, lựa chọn giống có chất lượng và tích cực phòng chống dịch bệnh. Vì vậy, năm 2014, sản lượng thủy sản đạt 64.507 tấn, tăng 7,1% so với cùng kỳ (tăng 15,4% kế hoạch). Trong đó, sản lượng khai thác thủy sản đạt 53.434,4 tấn, tăng 6,5%

Tại Quảng Trị, sản lượng khai thác thủy sản cả năm ước đạt 19.500 tấn, bằng 108,5%  kế hoạch, trong đó khai thác biển 18.100 tấn; khai thác sông, đầm, nội đồng khoảng 1.400 tấn. Sản lượng, giá trị khai thác thủy sản tăng bên cạnh yếu tố thời tiết còn nhờ công tác quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản được tỉnh quan tâm chỉ đạo sát sao, đặc biệt là các chính sách khuyến khích ngư dân khai thác vùng biển xa với nhiều nghề đánh bắt hiệu quả như lưới rê khơi, vây, pha xúc… mang lại những sản phẩm biển có giá trị kinh tế cao và xuất khẩu như: cá thu, cá ngừ, mực, cá cơm… Trên bờ, các hoạt động thu mua, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá ngày càng được chú trọng đầu tư góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm sau thu hoạch

Tính đến cuối năm 2014, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận số tàu cá công suất từ 90CV trở lên có 2.320 chiếc với tổng công suất 806.000 CV, tăng 145 chiếc với tổng công suất tăng 32.271 CV. Số thuyền công suất nhỏ (dưới 30 CV) giảm 174 chiếc so với cuối năm 2013. Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản được duy trì thường xuyên, từ đầu năm đến nay đã xử lý 544 vụ vi phạm, giảm 43,6% so với cùng kỳ. Khai thác hải sản xa bờ gắn với dịch vụ hậu cần nghề cá, đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động trên biển được đẩy mạnh.

Nhờ vậy, sản lượng khai thác hải sản toàn tỉnh Bình Thuận năm 2014 ước đạt 188.800 tấn, tăng 1% so năm ngoái.  Bên cạnh đó, cơ quan chức năng tỉnh chỉ đạo, quản lý chặt chẽ nghề giã cào bay, ngăn chặn sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để đánh bắt hải sản và không để tăng tàu cá công suất nhỏ; triển khai cấm lặn hải đặc sản trong thời gian sinh sản, quản lý nghề bẫy bắt tôm hùm con. Bên cạnh đó Bình Thuận đã thực hiện hỗ trợ ngư dân khai thác vùng biển xa theo Quyết định số 48/QĐ-TTg với số tiền 40,7 tỷ đồng; đang tập trung triển khai Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về  một số chính sách phát triển thuỷ sản. Đã tham mưu UBND Tỉnh phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án Tổ chức lại sản xuất trong khai thác thủy sản theo Quyết định 375/QĐ -TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quy định phân cấp quản lý và khai thác nguồn lợi Điệp quạt tại vùng biển ven bờ xã Phước Thể, huyện Tuy Phong.

Một số địa phương thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong đó có Cà Mau sản lượng tăng khá cao. Theo Sở Nông nghiệp và PTNT Cà Mau, tổng sản lượng thủy sản của tỉnh năm 2014 đạt 490.000 tấn, vượt chỉ tiêu đề ra gần 20.000 tấn, tăng 10,3% so với cùng kỳ. Trong số đó, sản lượng nuôi trồng đạt 150.000 tấn, tăng 12% so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác biển đạt 140.000 tấn, tăng 5% so với cùng kỳ; Đây là sản lượng cao nhất từ trước đến nay, nhờ tăng về sản lượng nên toàn tỉnh đã chế biến gần 180.000 tấn hàng thủy sản xuất khẩu, đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu năm 2014 của Cà Mau đạt 1,3 tỷ USD, tăng khoảng 200 triệu USD so với năm trước. Trong khi sản lượng khai thác hải sản tăng so với năm ngoái thì sản lượng khai thác cá nội địa năm nay giảm mạnh, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau cho biết nếu như sản lượng cá đồng của Cà Mau mỗi năm đạt 30.000 tấn thì sản lượng vụ mùa năm 2014-2015 ước chỉ đạt khoảng 20.000 tấn, giảm 10.000 tấn so với cùng kỳ, đây là sản lượng thấp nhất từ trước đến nay. Nguyên nhân sản lượng cá đồng giảm mạnh là do tác động của thời tiết. Vào mùa mưa bão, trung bình mỗi năm Việt Nam có 9-12 cơn bão, kèm theo mưa nhiều, là điều kiện thuận lợi cho cá đồng sinh trưởng. Năm nay số cơn bão bằng một nửa mọi năm, lượng mưa ít, ảnh hưởng tới điều kiện phát triển của cá đồng. Theo quy hoạch phát triển, đến năm 2020 sản lượng cá đồng sẽ đạt 50.000 tấn/ năm; Để đạt được con số này ngành nông nghiệp tỉnh cần tập trung vào ba giải pháp: mở rộng diện tích nuôi cá đồng từ 100.000ha hiện nay lên 130.000ha; hỗ trợ người nuôi từ 3-5 tấn cá giống mỗi năm; khuyến khích người dân nuôi cá đồng để phát triển kinh tế gia đình.

Năm 2014, ngư dân tỉnh Tiền Giang đã vượt qua khó khăn do thời tiết, bão lốc và những bất lợi trên biển, tổ chức bám ngư trường, phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ... đã khai thác được trên 88.000 tấn hải sản phục vụ tiêu dùng và chế biến xuất khẩu, đạt 100,42% chỉ tiêu cả năm và tăng hơn 0,58% so cùng kỳ năm trước. Hiện nay, toàn tỉnh Tiền Giang có đội tàu khai thác hải sản trên biển 1.376 chiếc với tổng công suất 295.400 CV, góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động trong ngoài tỉnh. Trong đó, đội tàu tham gia trực tiếp khai thác 1.183 chiếc, còn lại 193 tàu tham gia dịch vụ hậu cần trên biển, chủ yếu cung ứng nguyên liệu vật tư nghề cá và thu mua trực tiếp sản phẩm trên biển. Đây là mô hình tích cực tạo điều kiện giúp các đội tàu khai thác bám biển dài ngày, sản phẩm đưa về cảng cá hoặc đi tiêu thụ ở các nơi đảm bảo chất lượng tươi ngon, bán được giá hơn; Các nghề lưới đơn, lưới đôi, lưới rê, lưới vây kết hợp ánh sáng là nghề truyền thống của ngư dân Tiền Giang. Trong số tàu đánh cá của tỉnh, có đến 814 chiếc có công suất máy bằng hoặc trên 90CV có khả năng vươn ra hoạt động ở các ngư trường khơi xa: Nam Trường Sa, DK1, Nam Côn Sơn...không chỉ góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo mà còn giúp Tiền Giang đảm bảo được sản lượng đánh bắt hải sản cao, hiệu quả kinh tế lớn, cuộc sống ngư dân miền biển ngày một ổn định.

Đối với khai thác cá ngừ đại dương, từ cuối tháng 11 đến nay, nhiều tàu cá của ngư dân Bình Định hành nghề khai thác cá ngừ đại dương (CNĐD) đã cập bến để bán sản phẩm, đáng chú ý là sản lượng CNĐD khai thác đạt khá, sản phẩm bán với giá cao, nên ngư dân rất phấn khởi. Sản lượng và giá bán sản phẩm khá cao (94.000- 110.000 đồng/kg), trong khi đó giá xăng dầu giảm mạnh, nên đã giảm được chi phí đầu tư, tăng hiệu quả sản xuất; tỉnh Bình Định hiện có khoảng 400 tàu cá công suất lớn hành nghề câu mực kết hợp câu CNĐD và nghề vây ánh sáng kết hợp câu CNĐD, cùng 500 tàu khác chuyên nghề câu CNĐD đã ra khơi. Ngư trường chính khai thác CNĐD chủ yếu là khu vực biển thuộc quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, giữa Trường Sa và Hoàng Sa. Từ cuối tháng 11 đến nay, mỗi ngày có khoảng 100 tàu khai thác CNĐD của ngư dân trong tỉnh cập bến, bình quân mỗi tàu khai thác được 1,5 tấn sản phẩm. Từ đầu năm 2014 đến nay, ngư dân tỉnh đã khai thác được 190 ngàn tấn thủy sản các loại, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 8.600 tấn CNĐD, tăng 6,7%. Trong khi đó, tại Phú Yên, Sản lượng khai thác thủy sản từ đầu năm đến ngày 10/12 đã khai thác được 46.840 tấn, trong đó cá ngừ đại dương là 3.830 tấn

Nuôi trồng thủy sản

Năm 2014 là năm khá thuận lợi cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản, vì vậy tại các địa phương, sản lượng và diện tích nuôi trồng thủy sản đều tăng lên và mở rộng hơn so với năm 2013.

Theo Sở NN-PTNT Kiên Giang, tính đến thời điểm này toàn tỉnh đã thả nuôi được 90.563ha tôm nước lợ. Trong đó, nuôi theo hình thức công nghiệp, bán công nghiệp là 2.015 ha, tăng 51,6% so với cùng kỳ, nuôi quảng canh cải tiến 17.048 ha, còn lại là tôm lúa. Sản lượng thu hoạch đạt 51.430 tấn, tăng 22,5% so với cùng kỳ. Sản lượng tôm nuôi của tỉnh tăng mạnh là do năm nay tình hình thời tiết tương đối ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, giá thương phẩm cả tôm sú và tôm thẻ chân trắng luôn ở mức cao nên người dân mạnh dạn đầu tư thả nuôi. Tại Trà Vinh, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 175,7 nghìn tấn, tăng 15,32% so cùng kỳ

Theo Sở NN-PTNT Nam Định, năm 2014, diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh đạt 15.859 ha, tăng 1,99% so với năm 2013. Sản lượng thủy sản (nuôi nước ngọt và mặn lợ) đạt 63.530 tấn, tăng 6,98% so với năm 2013, vượt kế hoạch đề ra. NTTS ven biển chuyển hướng phát triển mạnh về chất lượng. Diện tích nuôi thuỷ sản nước mặn - lợ 6.451 ha, tăng 4,74% so với năm 2013. Sản lượng nuôi mặn lợ đạt 32.520 tấn, tăng 6,99% so với năm 2013. Riêng về con tôm, tổng diện tích nuôi năm 2014 là 3.808 ha, bằng 101,03% so với năm 2013. Tổng sản lượng tôm nước lợ đạt 4.060 tấn, bằng 102,01% so với năm 2013. Nhiều cơ sở nuôi đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao như xã Giao Phong, Giao Thiện, Bạch Long của huyện Giao Thủy. Nam Định đang có hơn 2.000 hộ dân tham gia nuôi tôm sú với 3.185 ha, tăng tới 44,3 ha so với năm 2013. Trong đó, diện tích nuôi bán thâm canh là 150 ha. Diện tích còn lại chủ yếu được người dân nuôi theo phương thức quảng canh cải tiến, nuôi xen canh với các đối tượng khác.

Tại Thanh Hóa, toàn tỉnh có 10.350 ha nuôi trồng thủy sản (NTTS) nước ngọt, sản lượng đạt 24.100 tấn/năm, tăng trưởng bình quân 6,7%/năm. Diện tích nuôi nước mặn, lợ là 7.700 ha; nhờ đầu tư thâm canh, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, sản lượng đạt 15.900 tấn/năm. Chủ yếu là hình thức nuôi quảng canh cải tiến, từng bước phát triển nuôi bán thâm canh, nuôi chuyên và trang trại tổng hợp, gắn  NTTS với trồng trọt, chăn nuôi

Mặt hàng tôm

Trong năm 2014 mặt hàng nuôi trồng được đánh giá nổi bật nhất là tôm nước lợ. Năm 2014, tận dụng bối cảnh thị trường các nước như Thái Lan, Trung Quốc chưa hồi phục, dưới sự chỉ đạo từ các cấp chính quyền, các địa phương tiếp tục phát triển mạnh nuôi tôm chân trắng, tôm vụ 3 thâm canh ở những vùng phù hợp. Do đó, năm 2014, sản lượng thu hoạch tôm đều tăng so với cùng kỳ, ngành nuôi tôm cả nước có sự phát triển vượt bậc, là điểm sáng trong các mặt hàng nông sản nói chung và thủy sản nói riêng. Tính hết năm 2014 , cả nước ước đạt  thả nuôi được 685.000 ha tôm nước lợ (đạt 102,2% kế hoạch), trong đó diện tích nuôi tôm sú 590.000 ha, tôm thẻ chân trắng 95.000 ha, sản lượng thu hoạch 660.000 tấn (đạt 120% kế hoạch và tăng 20,4% so năm 2013).

Về cơ cấu tỷ lệ nuôi tôm sú và tôm chân trắng có sự dịch chuyển khá lớn trong những năm gần đây, tỷ lệ diện tích nuôi tôm chân trắng và tôm sú tương ứng là 12,5% và 87,5% trong khi đó tỷ lệ về sản lượng tôm chân trắng và tôm sú tương ứng đạt 56,9% và 43,1%. Sự phát triển của tôm chân trắng đóng góp lớn trong việc tăng sản lượng của nuôi trồng thủy sản trong năm 2014.

Năm 2014, nông nghiệp Việt Nam tương đối được mùa, được giá và nổi bật nhất là ngành nuôi tôm, sản lượng cao, giá cả tương đối tốt. Tính ra, 1 kg tôm trị giá bằng khoảng 20 kg lúa. Năm nay, sản lượng tôm tăng 20,4% so với năm 2013, trị giá tương đương hơn 2 triệu tấn lúa.Tuy nhiên, ngoài những kết quả đạt được vẫn còn canh cánh nỗi lo về dịch bệnh và biến động thị trường, trong đó tình trạng về ô nhiễm nguồn nước do việc thả nuôi tôm ồ ạt là một vấn đề cần được quan tâm để phát triển ngành nuôi tôm bền vững trong thời gian tới

Cá tra

Tính cả năm 2014 diện tích nuôi cá tra ước đạt 5.500ha (100% kế hoạch) và sản lượng đạt 1,1 triệu tấn ( đạt 100% kế hoạch). So với năm 2013 diễn biến giá thu mua cá tra nguyên liệu đối ổn định và theo hướng có lợi hơn cho người nuôi, là tín hiệu tốt để người nuôi cá tra được yên tâm sản xuất

Trong những ngày cuối năm 2014, cá tra ở ĐBSCL tăng giá trở lại, do một số nhà máy cần nguyên liệu đưa giá thu mua lên 24.000-24.500đ/kg. Tuy nhiên, vào thời điểm này chỉ có lợi cho người nuôi cá liên kết gia công hoặc nuôi theo hợp đồng bán cho các nhà máy chế biến. Trong khi đó không ít người từng có ao nuôi cá tra trước đây khoanh tay ngồi nhìn vì nợ nần, cạn vốn.

 

 

Bên cạnh một số doanh nghiệp có vùng nuôi cá tra riêng dư thừa nguyên liệu, thì nhiều doanh nghiệp khác thiếu, phải đi mua lại. Tuy vậy, hiện nay việc bán lại cá nguyên liệu cho các nhà máy khác là do lượng cá đang dư thừa. Dù bán 23.000 đ/kg vẫn còn lãi 2.000 đ/kg. Hơn nữa, vào thời điểm cuối năm này, giá cá tra xuất khẩu chưa cao để có lãi hấp dẫn. Do đó bán cá nguyên liệu tính ra có lợi, bởi vì nếu thu hoạch đưa vào nhà máy sản xuất chế biến và xuất khẩu phải mất tới 5-6 tháng sau mới thu được tiền về, chưa chắc có lãi cao hơn. Mặc dù trong bối cảnh vùng nuôi thu hẹp, sản lượng cá tra nguyên liệu giảm và đôi khi thiếu hụt, song trong suốt cả năm giá cá tra nguyên liệu vẫn chưa vượt qua mức 25.000 đ/kg.

Nhu cầu thị trường xuất khẩu cá tra tại các nước EU và nhiều nước khác thời gian qua vẫn ổn định và không sụt giảm. Vùng nuôi có giảm sản lượng chút ít, bù lại các doanh nghiệp có dịp bán hàng trữ đông..

Bên cạnh đó, những chủ trương, chính sách gần đây của Đảng và Nhà nước đã có những tác động đáng kể đối với người nuôi trồng, kinh doanh sản xuất cá tra.

Điển hình như từ khi áp dụng Nghị định 36/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ về nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra; các doanh nghiệp rất đồng tình với việc đưa ra giá sàn khi xuất khẩu cá tra, giúp loại bỏ tình trạng các doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, bán phá giá, hạ chất lượng..., góp phần đưa ngành cá tra đi vào sản xuất nề nếp, quy củ hơn.

Đồng thời, sau khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 26/2014/TT-NHNN, ngày 1-11-2014, hướng dẫn tái cấp vốn 364 ngày cho những tổ chức tín dụng đã khoanh nợ cho hộ nuôi cá tra để các khoản người nuôi cá tra vay có thêm tối đa 3 năm nữa chưa phải trả nợ vay chờ thị trường phục hồi, đã tác động tích cực đến người nuôi cá tra.

Giá nhiều loại thủy sản tại đồng bằng sông Cửu Long trong những tuần cuối tháng 11 đầu tháng 12 biến động không đáng kể, do nguồn cung ���n định. Cụ thể giá tôm sú từ 165.000-280.000 đồng/kg, tùy kích cỡ, giảm 10.000 -15.000 đồng/kg so với đầu tháng; tôm thẻ chân trắng từ 100.000-121.000 đồng/kg, tùy loại, giảm từ 2.000-3.000 đồng/kg. Riêng mặt hàng cá lóc nuôi 40.000 đồng/kg, tăng 5.000 đồng/kg.

Nhiều loại thủy sản khác có mức giá ổn định như cá điêu hồng 32.000 đồng/kg, cá sặc rằn 55.000-60.000 đồng/kg, cá rô phi 29.000 đồng/kg, tôm càng xanh từ 200.000-270.000 đồng/kg. Cá tra thịt trắng loại 1 từ 24.600-26.600 đồng/kg, loại 2 từ 23.000-24.500 đồng/kg.

Xuất khẩu thủy sản

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 12/2014 đạt 628,8 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản năm 2014đạt 7,84 tỷ USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức xuất khẩu kỷ lục của ngành thủy sản.

Theo số liệu Hải quan và tổng hợp của VASEP, giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 12/2014 giảm 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính cả năm 2014, xuất khẩu các mặt hàng đều tăng trưởng, trong đó xuất khẩu tôm đạt tăng trưởng cao nhất 26,9%, xuất khẩu cá tra đã hồi phục với mức tăng nhẹ 0,4%. Xuất khẩu cá ngừ chưa có dấu hiệu phục hồi, giảm 9,4%. Mỹ, EU và Nhật Bản vẫn là ba thị trường tiêu thụ lớn nhất của thuỷ sản Việt Nam. Năm 2014, tổng giá trị xuất khẩu sang ba thị trường này đạt hơn 4,38 tỷ USD, chiếm 55,95% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước.

Năm 2014, tổng giá trị xuất khẩu tôm có mức tăng trưởng mạnh (26,9%) so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 3,95 tỷ USD, chiếm 50,38% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Đứng đầu về nhập khẩu tôm Việt Nam là thị trường Mỹ chiếm 26,92% tỷ trọng xuất khẩu tôm và giá trị xuất khẩu đạt 1,06 tỷ USD (tăng 28%). Tiếp theo là thị trường Nhật Bản và EU chiếm tỷ trọng lần lượt là 18,8% và 17,27% với giá trị xuất khẩu tăng tương ứng 4,9% (đạt 743,4 triệu USD) và 66,7% (đạt 682,7 triệu USD).

So với cùng kỳ năm 2013, xuất khẩu cá tra năm 2014 đạt gần 1,77 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù giảm mạnh, nhưng EU vẫn là thị trường chủ lực nhập khẩu cá tra của Việt Nam. Năm 2014, xuất khẩu cá tra sang EU đạt 344,3 triệu USD, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 19,47% tỷ trọng. Xuất khẩu cá tra vào thị trường Mỹ cũng giảm 11,5%, đạt 336,8 triệu USD, nhưng Mỹ vẫn là thị trường quan trọng đứng thứ hai của cá tra Việt Nam. Tiếp đến là xuất khẩu vào ASEAN và Bra-xin với giá trị tương ứng đạt 136,6 triệu USD (tăng 9,4%) và 113,2 triệu USD (tăng 0,9%).

Mặc dù xuất khẩu cá ngừ những tháng cuối năm 2014 có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm 2013, nhưng tính cảnăm 2014, xuất khẩu cá ngừ vẫn giảm 8,1%, đạt 484,2 triệu USD. Hiện Mỹ tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về nhập khẩu cá ngừ Việt Nam, chiếm 36,18% tỷ trọng giá trị xuất khẩu cá ngừ, đạt 175,2 triệu USD, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Đứng thứ hai là thị trường EU chiếm 27,92% tỷ trọng với giá trị xuất khẩu đạt 135,2 triệu USD, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm 2013. Tiếp theo là ASEAN và Nhật Bản chiếm 7,22% và 4,66% tỷ trọng, giá trị xuất khẩu sang hai thị trường này lần lượt là 35 triệu USD (giảm 1,5%) và 22,6 triệu USD (giảm mạnh 46,3%).

Năm 2014, xuất khẩu nhuyễn thể chân đầu (mực và bạch tuộc) tăng 8% so với cùng kỳ năm 2013, đạt 483,3 triệu USD. Xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ (NTHMV) tăng 10,7% (đạt xấp xỉ 80 triệu USD). Hàn Quốc, Nhật Bản và EU là các thị trường nhập khẩu mực, bạch tuộc quan trọng nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng lần lượt là 36,2%; 23,2% và16,7% với giá trị tương ứng là 174,7 triệu USD, 112 triệu USD và 80,6 triệu USD. Đối với NTHMV, EU là thị trường quan trọng nhất chiếm 68,1% tỷ trọng, tiếp theo là Nhật Bản và Mỹ với tỷ trọng lần lượt là 10,7% và 8,7%.